Các loài ếch “quái dị” khó tưởng

07/11/2013 20:12
Lê Dũng

Ếch cà chua, ếch ca cao, ếch tím, ếch thủy tinh, ếch rùa… là những loài ếch kỳ quái và bí ẩn nhất.

Ếch cà chua Madagascar có tên khoa học là Dyscophus antongilii, là một loài ếch lớn có da biến màu trong khoảng từ màu vàng cam đến màu đỏ da cam. Những con ếch đực có xu hướng đổi màu ít và nhạt hơn những con cái. Loài ếch này được tìm thấy nhiều ở vùng Madagascar.

Ếch cà chua Madagascar có tên khoa học là Dyscophus antongilii, là một loài ếch lớn có da biến màu trong khoảng từ màu vàng cam đến màu đỏ da cam. Những con ếch đực có xu hướng đổi màu ít và nhạt hơn những con cái. Loài ếch này được tìm thấy nhiều ở vùng Madagascar.

Ếch ca cao có tên khoa học là Hypsiboas sp, nhưng là loài mới nên chưa có một tên phân loại chính thức được nêu ra. Loài này được phát hiện ở đông nam Suriname cùng với 60 loài chưa từng được biết đến khác. Chú ếch này có đôi mắt lớn màu nâu, nhô hẳn lên trên đỉnh đầu và lớp da màu ca cao ấm áp.

Ếch ca cao có tên khoa học là Hypsiboas sp, nhưng là loài mới nên chưa có một tên phân loại chính thức được nêu ra. Loài này được phát hiện ở đông nam Suriname cùng với 60 loài chưa từng được biết đến khác. Chú ếch này có đôi mắt lớn màu nâu, nhô hẳn lên trên đỉnh đầu và lớp da màu ca cao ấm áp.

Ếch khỉ chân hổ có tên khoa học là Phyllomedusa tomopterna, loài này có ngoại hình kỳ lạ chân dài và leo trèo như khỉ, ngoài ra chân còn các sọc vằn giống như loài hổ. Loài này dành nhiều thời gian trên các ngọn cây trong rừng nhiệt đới, nơi tiếp xúc nhiều với ánh nắng nhiệt đới gay gắt. Để chống lại những ảnh hưởng của bức xạ mặt trời, những con ếch này tiết ra một chất sáp có tác dụng như kem chống nắng tự nhiên. Điều kỳ quặc nữa là loài này chủ yếu hoạt động vào ban đêm trong khi ngủ suốt ngày.

Ếch khỉ chân hổ có tên khoa học là Phyllomedusa tomopterna, loài này có ngoại hình kỳ lạ chân dài và leo trèo như khỉ, ngoài ra chân còn các sọc vằn giống như loài hổ. Loài này dành nhiều thời gian trên các ngọn cây trong rừng nhiệt đới, nơi tiếp xúc nhiều với ánh nắng nhiệt đới gay gắt. Để chống lại những ảnh hưởng của bức xạ mặt trời, những con ếch này tiết ra một chất sáp có tác dụng như kem chống nắng tự nhiên. Điều kỳ quặc nữa là loài này chủ yếu hoạt động vào ban đêm trong khi ngủ suốt ngày.

Ếch khổng lồ màu tím có tên khoa học là Nasikabatrachus sahyadrensis, loài này dành phần lớn cuộc sống dưới lòng đất, nó chỉ nổi lên để giao phối. Ếch khổng lồ màu tím là thành viên còn sống sót duy nhất của nhóm động vật lưỡng cư phát triển khoảng 130 triệu năm trước trong thời đại của khủng long. Loài này đang gặp nguy cơ tuyệt chủng.

Ếch khổng lồ màu tím có tên khoa học là Nasikabatrachus sahyadrensis, loài này dành phần lớn cuộc sống dưới lòng đất, nó chỉ nổi lên để giao phối. Ếch khổng lồ màu tím là thành viên còn sống sót duy nhất của nhóm động vật lưỡng cư phát triển khoảng 130 triệu năm trước trong thời đại của khủng long. Loài này đang gặp nguy cơ tuyệt chủng.

Ếch Gastrotheca guentheri chỉ được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới dày đặc ở Colombia và Ecuador, loài lưỡng cư này nổi tiếng là vô cùng ít răng. Môi trường sống tự nhiên của ếch Gastrotheca guentheri là các khu rừng ẩm ướt đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, các khu rừng vùng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, và sông. Loài này đang bị đe dọa do mất môi trường sống.

Ếch Gastrotheca guentheri chỉ được tìm thấy trong các khu rừng nhiệt đới dày đặc ở Colombia và Ecuador, loài lưỡng cư này nổi tiếng là vô cùng ít răng. Môi trường sống tự nhiên của ếch Gastrotheca guentheri là các khu rừng ẩm ướt đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, các khu rừng vùng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, và sông. Loài này đang bị đe dọa do mất môi trường sống.

Ếch thủy tinh là những con ếch cây sống về đêm sống trong các khu rừng ẩm của Trung và Nam Mỹ. Tên của loài này xuất phát từ lớp da mờ ở dưới bụng. Nhiều phần nội tạng của loài ếch này có thể được nhìn thấy được nhìn thấu qua da.

Ếch thủy tinh là những con ếch cây sống về đêm sống trong các khu rừng ẩm của Trung và Nam Mỹ. Tên của loài này xuất phát từ lớp da mờ ở dưới bụng. Nhiều phần nội tạng của loài ếch này có thể được nhìn thấy được nhìn thấu qua da.

Ếch có sừng hoa hòe có tên khoa học là Ceratophrys ornata, loài này được mệnh danh là ếch Pac-Man vì cái miệng khổng lồ và thèm ăn vô độ. Nó chỉ ngồi và chờ đợi phục kích kẻ săn mồi và trốn nổi ngụy trang trên mặt đất hoặc trong lá rụng. Nó có thể nuốt chim, côn trùng, chuột, hoặc thậm chí cả loài ếch khác. Loài này có thể được tìm thấy tại Uruguay, Argentina và Brazil.

Ếch có sừng hoa hòe có tên khoa học là Ceratophrys ornata, loài này được mệnh danh là ếch Pac-Man vì cái miệng khổng lồ và thèm ăn vô độ. Nó chỉ ngồi và chờ đợi phục kích kẻ săn mồi và trốn nổi ngụy trang trên mặt đất hoặc trong lá rụng. Nó có thể nuốt chim, côn trùng, chuột, hoặc thậm chí cả loài ếch khác. Loài này có thể được tìm thấy tại Uruguay, Argentina và Brazil.

Ếch rùa có tên khoa học là Myobattachus gouldii, loài ếch khác thường này trông giống như một con rùa đã bị mất đi mai. Loài này ngắn tũn, mắt tròn nhỏ, chân tay béo. Nó sống trong hang dưới lòng đất ở vùng đồng bằng ven biển và rừng cực Tây Nam Úc.

Ếch rùa có tên khoa học là Myobattachus gouldii, loài ếch khác thường này trông giống như một con rùa đã bị mất đi mai. Loài này ngắn tũn, mắt tròn nhỏ, chân tay béo. Nó sống trong hang dưới lòng đất ở vùng đồng bằng ven biển và rừng cực Tây Nam Úc.

Ếch mũi Pinocchio có cái mũi vô cùng đặc biệt, với phần mũi dài khác thường khi chúng cất tiếng gọi đồng loại. Khi ếch cất tiếng kêu, lập tức phần mũi của nó hướng lên trên và hơi xẹp lại khi con vật không hoạt động.

Ếch mũi Pinocchio có cái mũi vô cùng đặc biệt, với phần mũi dài khác thường khi chúng cất tiếng gọi đồng loại. Khi ếch cất tiếng kêu, lập tức phần mũi của nó hướng lên trên và hơi xẹp lại khi con vật không hoạt động.

Ếch đẻ con bằng miệng có tên khoa học là Rheobatrachus silus, loài này được phát hiện vào năm 1972 sống trong suối đá, ao trong khu rừng nhiệt đới của Queensland, Australia. Đáng buồn thay, loài ếch đặc biệt này có lẽ là đã tuyệt chủng. Loài ếch này hoang dã được nhìn thấy trong năm 1981, con ếch được biết đến cuối cùng trong điều kiện nuôi nhốt qua đời vào năm 1983.

Ếch đẻ con bằng miệng có tên khoa học là Rheobatrachus silus, loài này được phát hiện vào năm 1972 sống trong suối đá, ao trong khu rừng nhiệt đới của Queensland, Australia. Đáng buồn thay, loài ếch đặc biệt này có lẽ là đã tuyệt chủng. Loài ếch này hoang dã được nhìn thấy trong năm 1981, con ếch được biết đến cuối cùng trong điều kiện nuôi nhốt qua đời vào năm 1983.

(WE/FSG)

Loading...

Bình luậnViết cảm nhận

Mới nhất
TopTrong ngày
TopTrong tuần